• youtube
  • facebook

Thơ đám cưới và những câu chuyện đan xen thú vị của người Tày ở Cao Bằng

Trong một tiệc cưới truyền thống, từ thủ tục, tiến trình, cách thức… của hai bên gia đình nhà trai/gái đều hàm chứa thái độ khiêm tốn đối với mình, đề cao, trân trọng phía bên kia (nhà trai/nhà gái). Cách cư xử rất ôn hòa, lễ độ ở mảng thơ đối đáp trong đám cưới (được gọi là thơ quan lang/thơ đám cưới/hát đám cưới) cũng thể hiện rất rõ.

Thiếu nữ Tày duyên dáng với chiếc nón lá của dân tộc.

Thiếu nữ Tày duyên dáng với chiếc nón lá của dân tộc.

Thiếu nữ Tày duyên dáng với chiếc nón lá của dân tộc.

Để gia đình nhà gái/nhà trai tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ mình, nhà trai/nhà gái thường chọn những người đưa đón dâu có khả năng ứng xử khéo léo, hoạt khẩu, biết sử dụng những khúc hát đối đáp trong đám cưới để đưa đón dâu. Tài ứng xử của nhà trai (chủ yếu là ông quan lang - người đứng đầu đoàn rước dâu) và nhà gái (pả mẻ - người đứng đầu đoàn đưa dâu) rất quan trọng trong lễ cưới người Tày, nhất là lễ cưới người Tày xưa.
Trong các khúc hát/thơ ở đám cưới, cũng như các thể loại thơ ca của người Tày, thường xen những câu chuyện nhỏ. Cuộc đối đáp/ứng khẩu thử tài giao tiếp giữa hai bên gia đình cô dâu, chú rể giống như cuộc trình diễn văn nghệ, vừa biểu lộ khả năng giao tiếp, vừa thu hút người xung quanh vào những câu chuyện có tính cổ tích, thần thoại rất thú vị. 

Chẳng hạn, ở khâu xin nhà gái thắp đèn, ông quan lang phải ngâm/đọc đoạn thơ “Xo đén” (Xin đèn): 
Tởi cón vua Thánh Nhân tẳt chảo/Tẳt pền dầu bjoóc thảo rủng quang/Thảnh hiền chắng lo toan chứt đén/Tại mẻ nàng nự hiến cười chua/Tu thân nắm au phua dú ké/Cừn vằn hác dú lé puồn thân/Slao, báo kẻo phân vân bặng bửa/Nắm thúc toọng noọng nhỉ cười chua/Nàng chắng mừa chầu vua thượng đế/Mởi nàng lồng tu thể quốc gia/Vằn nẩy phiểc lẩu chà hỷ hạ/Mởi nàng lồng đạo lả lương đông/Củ tin nàng lồng thâng mà lỏt/Tha nả nàng bặng bjoóc đang phông/Củ tin khửn chường ngần chứt đén/Xuân họ nẳng phuối toẹn khoe le/Đén cần lăng khoen sle đăm nhám/Slao báo kẻo vội vảng tung gia/Tẳt pền khẩu nua nà khoen lộn/Củ pác vàn slao noọng cười chua/Chứt đén khửn pàn nưa rủng chỏi/Rủng mà nả bọn khỏi đảy ơn/Rủng mà khóp tu lườn họ háng/Sle lủc khươi lạy táng khửn mừa/Đẳm cần cỏi cụm cùa sloong bưởng. Dịch: Đời xưa vua Thánh Nhân đặt tạo/Đặt thành dầu hoa thảo sáng trong/Thánh hiền mới lo toan đèn thắp/Tại có nàng hiền đẹp xinh tươi/Tu thân không lấy chồng ở vậy/Ngày đêm sống đơn lẻ buồn thân/Gái, trai đến vi vân như bướm/Không vừa lòng người ngọc khôi châu/Nàng mới lên chầu vua thượng đế/Mời nàng xuống trần thế quốc gia/Hôm nay việc rượu chè hỉ hả/Mời cho nàng giáng hạ dương đông/Được lời nàng bước chân xuống tới/Mặt mũi nàng đẹp tựa hoa tươi/Bước chân lên thắp đèn giường bạc/Thân họ ngồi trò chuyện lao xao/Đèn treo đó mà sao không thắp/Trai gái kéo tấp nập vào ra/Đặt thành lúa nếp hoa treo lộn/Cất lời nhờ các bạn khôi châu/Thắp đèn lên bàn thờ sáng tỏ/Sáng đèn khắp mọi chỗ mọi nơi/Sáng đèn cả chúng tôi ơn tạ/Để con rể bái lạy tổ tiên/Phù hộ cho hai bên thân họ.

Ở đoạn thơ trên, ông quan lang mở lời nhờ nhà gái thắp đèn lên bàn thờ để con rể làm thủ tục bái lạy tổ tiên. Lời nhờ cậy là lời nửa trực tiếp, được dắt dẫn từ một câu chuyện kể về sự tích thắp đèn: Đời xưa có vị vua đặt lệ thắp đèn dầu hoa thảo, các bậc thánh hiền từ đó có tục thắp đèn. Có nàng thiếu nữ xinh tươi không vừa lòng với bất kỳ chàng trai nào nên nàng không lấy chồng mà lên thượng giới chầu Thượng đế. Kể tới đây, người kể chuyện chuyển sang làm người mời hồn vía nàng thiếu nữ đó (đã được Thượng đế giao cho việc đảm trách trông coi ánh sáng ở thế gian, dù phần kể trên không nói rõ điều này) giáng trần để chăm lo ánh sáng ở bàn thờ tổ tiên nhà gái. Rồi ông quan lang như nhập cuộc vào sự giáng trần của người tiên, kể tiếp về sự hiện diện của nàng, trách cứ nhà gái chưa thắp đèn. Sau cùng, ông quan lang “quay trở về” hiện thực, nhờ nhà gái - các cô gái thắp đèn lên bàn thờ. 

Tuy vậy, đèn vẫn chưa được thắp trên bàn thờ, ông quan lang phải ngâm/đọc tiếp đoạn thơ “Chồm đén” (Mừng đèn). Ban đầu là lời ông quan lang (Trước tôi mừng đăng quang bóng đèn) vào đề trực tiếp, câu thứ hai bắt ngay vào câu chuyện sự tích đèn dầu. Câu chuyện có các chi tiết sau: Vua Trang Vương xưa đánh cờ đêm, thị nữ phải chầu chực xung quanh đốt đuốc hầu vua - lệnh ban ra: tìm ánh sáng thay đuốc. Đến đây, chuyện quay sang sự tích hạt lúa: Ngày xưa, hạt ngô bằng quả bầu, hạt lúa bằng quả dưa, đến mùa chín lúa tự bò về nhà, người chỉ cần tìm dụng cụ chứa đựng. Có nàng Thị Đạo ham trai, mải mê chải chuốt đón chờ người tình (Ngày chải đầu chín lần chờ chụ), khi lúa chín bò về đòi chỗ đựng, nàng nổi giận mang đòn gánh đánh lúa tơi bời, vừa đánh vừa rủa: Từ nay có “hép thua luổm pây tan, càn thua luồng pây tháp, cần pây lẳp cỏi mà, bấu náo dú chang nà hại đỏi” (Hái đầu muỗm đi cắt, đòn đầu rồng đi gánh, chủ đi đón hãy về, nếu không cứ ngoài đồng chín rũ). Thóc lên trời cáo với Bụt, Bụt sai sứ xuống hạ giới bắt hồn nàng về giam trên thượng giới, xác nàng hóa thành cây lai. Cây lai ra quả, tháng tám rụng đầy gốc. Chim chuột ăn thừa thãi vương vãi. Sứ giả nhà vua bèn nhặt quả lai ném vào lửa, quả lai gặp lửa bùng cháy. Bèn truyền cho mọi người đem quả này giã ra, đổ nước vào đem nấu. Họ được một sản phẩm bất ngờ (Nước nặng chìm xuống dưới, dầu nhẹ nổi lên trên) - Thị nữ nhà vua đem thứ dầu ấy thắp sáng cho vua chơi cờ, thôi dùng đuốc. Dầu ấy được truyền lại cho thế gian. Đến đây, khi kể xong câu chuyện, ông quan lang mới quay lại tiếp tục nhờ cậy các thiếu nữ nhà gái thắp đèn: Hôm nay việc hôn nhân hỉ hả/Tôi nhờ các thiếu nữ đẹp xinh/Nhờ các nàng thắp đèn cho sáng!

Qua việc nhờ thắp đèn cho sáng bàn thờ tổ tiên chuẩn bị cho rể lễ bái, lời nhờ cậy của nhà trai đã chứa hai câu chuyện thú vị. Các câu chuyện vừa thể hiện thái độ khiêm nhường, tôn trọng, đề cao nhà gái, vừa thể hiện khả năng ứng xử, vừa có tác dụng như một cuộc kể chuyện dân gian, kéo người nghe vào nội dung ly kỳ, hấp dẫn.      

create

Thu Bình/ baocaobang.vn

Chiêm ngưỡng sự huyền diệu đến lạ kỳ của lối trang trí “nhất thi nhất họa” tại  Huế

Chiêm ngưỡng sự huyền diệu đến lạ kỳ của lối trang trí “nhất thi nhất họa” tại Huế

timer09/11/2018

Huế là nơi rất nổi tiếng và thu hút được rất nhiều khách thăm quan bởi kiến trúc độc đáo ở nơi đây. Nhưng ít ai biết đến phong cách trang trí “nhất thi nhất họa” trên kiến trúc cung đình Huế. Đây là một loại hình nghệ thuật hiếm thấy trên thế giới. Với sự đa dạng và thể hiện trên nhiều chất liệu khác nhau như gỗ, đá, đồng, sơn son thếp vàng…tất cả đã tạo nên một bức tranh rất độc đáo, rất riêng chỉ có tại Huế.

Chùm ảnh: Điều đặc biệt của cầu sắt Bạch Hổ trăm tuổi ở xứ Huế

Chùm ảnh: Điều đặc biệt của cầu sắt Bạch Hổ trăm tuổi ở xứ Huế

timer09/11/2018

Cầu sắt Bạch Hổ là một di tích quan trọng gắn với nhiều thăng trầm lịch sử của xứ Huế và cả lịch sử phát triển của ngành đường sắt Việt Nam.

Cao Bằng: Đặc sắc phong tục đám cưới của người Mông trắng

Cao Bằng: Đặc sắc phong tục đám cưới của người Mông trắng

timer09/11/2018

Người dân tộc Mông ở Cao Bằng chiếm hơn 10% dân số toàn tỉnh với 3 nhóm: Mông trắng, Mông hoa, Mông đen vẫn giữ gìn, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc khá nguyên vẹn. Trong đó có phong tục đám cưới của nhóm Mông trắng tại các huyện: Thông Nông, Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình..., mang nét văn hóa đặc trưng.

Đặc sắc nón lá của dân tộc Lô Lô đen ở Bảo Lạc

Đặc sắc nón lá của dân tộc Lô Lô đen ở Bảo Lạc

timer09/11/2018

Nón lá của dân tộc Lô Lô đen ở huyện Bảo Lạc không chỉ là vật dụng gắn bó mật thiết với người dân trong sinh hoạt, lao động hằng ngày mà còn là sản phẩm thủ công độc đáo, thể hiện bàn tay tài hoa, trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân, mang nét đặc trưng văn hóa của người Lô Lô nơi đây.